Mẫu lịch làm việc thợ nail: ca trong tuần cho tiệm ở Mỹ (2026)
Đây là bảng tuần cho tiệm nail ở Mỹ. Bảng ghi thợ nào có mặt, làm từ mấy giờ đến mấy giờ, nghỉ lúc nào, làm được dịch vụ nào, ngồi ghế nào, tổng bao nhiêu giờ, và ai mở cửa, ai đóng cửa. Chị chép bảng, đổi sang tên thợ của tiệm mình, rồi xem danh sách kiểm trước khi chốt tuần. Các hàng trong bảng là ví dụ, số bịa ra. Đây không phải mục tiêu và cũng không phải số của Bukkii.

Mục lục · 12 phần
Bảng ca chung thiếu gì
File chia ca tải miễn phí trên mạng thường chỉ có tên, ngày, giờ vào và giờ ra. Vậy là đủ nếu ai trong ca cũng làm cùng một việc. Tiệm nail thì không như vậy. Lan làm gel nhưng không làm acrylic. Kim làm pedicure nhưng không làm bộ gel. Hoa là thợ khách quen kêu tên. Tới thứ Bảy, mấy bộ làm lâu dồn hết vào đúng những thợ làm được. Một ô giấy chỉ ghi "10 giờ tới 7 giờ" thì trang book không biết được mấy chuyện đó.
Ngày 5 tháng 11 năm 2026, tìm mẫu lịch bằng tiếng Việt thì thường chỉ ra bảng phân ca Excel, hoặc một file Google Sheets quản lý tiệm nói chung. Mấy mẫu đó chỉ xoay quanh giờ vào giờ ra. Còn tuần làm của tiệm nail phải có thêm dịch vụ, ghế, và chuyện khách chỉ chịu ngồi với một thợ. Bài này đưa ra đúng cái bảng đó, viết cho chủ tiệm nail người Việt ở Mỹ, tính bằng đô la và theo giờ giấc tiệm bên này. Đây là bài về cách chạy tiệm, không phải bài so sánh phần mềm, và không chép giá của ai.
Thợ ăn hoa hồng hay thuê ghế đều dùng được. Tuần ví dụ bên dưới là số bịa. Tên không phải đội thợ thật, giờ không phải mục tiêu, và không có số nào là số của Bukkii. Khi đã điền tên thợ của tiệm mình vào thì chị xóa các hàng ví dụ đi.
Tuần ví dụ
Tiệm trong ví dụ mở thứ Hai 10:00–6:00, thứ Ba đến thứ Sáu 10:00–7:00, thứ Bảy 9:00–6:00, và Chủ nhật 11:00–5:00. Tiệm có bốn thợ. Lan, Hoa và Kim ăn hoa hồng nên chủ tiệm xếp ca. Mai thuê ghế 3 và tự chọn ngày làm. Nhưng ngày của Mai vẫn phải ghi lên bảng. Không ghi thì chuyện thứ Ba có ai làm acrylic chỉ nằm trong đầu một người.
Lan ngồi ghế 2, làm bộ gel, fill gel, dip và manicure. Lan không làm acrylic, không làm pedicure. Hoa ngồi ghế 1, làm bộ acrylic, fill acrylic, bộ gel, fill gel và dip. Hoa là thợ khách quen hay kêu tên. Kim ngồi ghế pedi, làm pedicure, manicure và gel polish trên móng thật. Gel polish không phải bộ gel. Mai ngồi ghế 3, làm bộ acrylic, fill acrylic và dip. Mai không làm bộ gel, không làm pedicure.
Ví dụ này cố tình chừa hai chỗ hở để danh sách kiểm bên dưới có lỗi mà bắt. Thứ Sáu, Lan và Hoa cùng nghỉ từ 2:00 đến 2:30, mà đó lại là hai thợ duy nhất làm bộ gel. Chị dời giờ nghỉ của một trong hai người trước khi chốt tuần. Thứ Tư Kim nghỉ nên cả ngày không có pedicure. Thứ Năm không có ai làm acrylic cho tới trưa, lúc Hoa vào. Nếu trang đặt lịch không dựa theo bảng này, nó vẫn cứ bán những giờ đó cho khách.
Chép mẫu này
Bảng nằm ngay trên trang này, không có file để tải. Chị chọn bảng, chép, rồi dán vào Google Sheets hoặc Excel. Mỗi thợ có một hàng cho mỗi ngày, kể cả ngày nghỉ, để ô trống là chị cố ý để trống chứ không phải quên ghi. Ô dịch vụ vẫn ghi lại ở ngày nghỉ để danh sách dịch vụ không mất đi khi thợ vắng. Hàng cuối để trống. Chị thêm sáu hàng cho các ngày còn lại của thợ đó, rồi làm tiếp tới thợ sau.
Tổng giờ trong tuần nằm ở bảng kế tiếp, không ghi vào từng ngày để khỏi phải dán cùng một con số bảy lần. Giờ nghỉ nằm bên trong khoảng giờ vào giờ ra, không phải giờ cộng thêm sau khi tan ca.
| Thợ | Ngày | Giờ vào | Giờ ra | Nghỉ từ | Nghỉ đến | Dịch vụ tuần này | Ghế | Mở cửa | Đóng cửa |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Lan | Thứ Hai | Nghỉ | Bộ gel, fill gel, dip, manicure | Ghế 2 | |||||
| Lan | Thứ Ba | 10:00 | 7:00 | 2:00 | 2:30 | Bộ gel, fill gel, dip, manicure | Ghế 2 | Có | — |
| Lan | Thứ Tư | 10:00 | 7:00 | 2:00 | 2:30 | Bộ gel, fill gel, dip, manicure | Ghế 2 | — | — |
| Lan | Thứ Năm | 10:00 | 7:00 | 2:00 | 2:30 | Bộ gel, fill gel, dip, manicure | Ghế 2 | — | Có |
| Lan | Thứ Sáu | 10:00 | 7:00 | 2:00 | 2:30 | Bộ gel, fill gel, dip, manicure | Ghế 2 | — | — |
| Lan | Thứ Bảy | 9:00 | 6:00 | 1:00 | 1:30 | Bộ gel, fill gel, dip, manicure | Ghế 2 | Có | — |
| Lan | Chủ nhật | Nghỉ | Bộ gel, fill gel, dip, manicure | Ghế 2 | |||||
| Hoa | Thứ Hai | 10:00 | 6:00 | 1:30 | 2:00 | Bộ acrylic, fill acrylic, bộ gel, fill gel, dip | Ghế 1 | Có | Có |
| Hoa | Thứ Ba | Nghỉ | Bộ acrylic, fill acrylic, bộ gel, fill gel, dip | Ghế 1 | |||||
| Hoa | Thứ Tư | 10:00 | 7:00 | 2:30 | 3:00 | Bộ acrylic, fill acrylic, bộ gel, fill gel, dip | Ghế 1 | Có | — |
| Hoa | Thứ Năm | 12:00 | 7:00 | 3:30 | 4:00 | Bộ acrylic, fill acrylic, bộ gel, fill gel, dip | Ghế 1 | — | — |
| Hoa | Thứ Sáu | 10:00 | 7:00 | 2:00 | 2:30 | Bộ acrylic, fill acrylic, bộ gel, fill gel, dip | Ghế 1 | — | Có |
| Hoa | Thứ Bảy | 9:00 | 6:00 | 1:30 | 2:00 | Bộ acrylic, fill acrylic, bộ gel, fill gel, dip | Ghế 1 | — | Có |
| Hoa | Chủ nhật | 11:00 | 5:00 | 2:00 | 2:30 | Bộ acrylic, fill acrylic, bộ gel, fill gel, dip | Ghế 1 | Có | Có |
| Kim | Thứ Hai | 10:00 | 6:00 | 1:00 | 1:30 | Pedicure, manicure, gel polish | Ghế pedi | — | — |
| Kim | Thứ Ba | 10:00 | 7:00 | 2:30 | 3:00 | Pedicure, manicure, gel polish | Ghế pedi | — | Có |
| Kim | Thứ Tư | Nghỉ | Pedicure, manicure, gel polish | Ghế pedi | |||||
| Kim | Thứ Năm | 10:00 | 7:00 | 2:00 | 2:30 | Pedicure, manicure, gel polish | Ghế pedi | Có | — |
| Kim | Thứ Sáu | 11:00 | 7:00 | 3:00 | 3:30 | Pedicure, manicure, gel polish | Ghế pedi | — | — |
| Kim | Thứ Bảy | 9:00 | 5:00 | 12:30 | 1:00 | Pedicure, manicure, gel polish | Ghế pedi | — | — |
| Kim | Chủ nhật | 11:00 | 5:00 | 1:30 | 2:00 | Pedicure, manicure, gel polish | Ghế pedi | — | — |
| Mai | Thứ Hai | Nghỉ | Bộ acrylic, fill acrylic, dip | Ghế 3 | |||||
| Mai | Thứ Ba | 10:00 | 7:00 | 1:30 | 2:00 | Bộ acrylic, fill acrylic, dip | Ghế 3 | — | — |
| Mai | Thứ Tư | 12:00 | 7:00 | 3:00 | 3:30 | Bộ acrylic, fill acrylic, dip | Ghế 3 | — | Có |
| Mai | Thứ Năm | Nghỉ | Bộ acrylic, fill acrylic, dip | Ghế 3 | |||||
| Mai | Thứ Sáu | 10:00 | 7:00 | 1:30 | 2:00 | Bộ acrylic, fill acrylic, dip | Ghế 3 | Có | — |
| Mai | Thứ Bảy | 9:00 | 6:00 | 2:00 | 2:30 | Bộ acrylic, fill acrylic, dip | Ghế 3 | — | — |
| Mai | Chủ nhật | Nghỉ | Bộ acrylic, fill acrylic, dip | Ghế 3 | |||||
| Thợ của tiệm | Thứ Hai |
Tổng giờ trong tuần
Giờ có mặt tính từ lúc vào tới lúc ra. Giờ nghỉ bị khóa trên sổ book, nên giờ còn nhận khách sẽ ít hơn. Lan có mặt 45 giờ, nghỉ 2.5 giờ, còn 42.5 giờ khách thật sự ngồi được với Lan. Hoa có mặt 48 giờ, nghỉ 3 giờ, còn 45 giờ để book. Kim cũng giống Hoa. Mai tính trên những ngày Mai tự chọn: có mặt 34 giờ, nghỉ 2 giờ, còn 32 giờ để book.
Chị ghi rõ thợ ăn hoa hồng được tính theo số nào trong hai số đó, và đừng đổi cách tính giữa tuần. Bài này không chọn cách trả tiền giùm chị, và cũng không phải lời khuyên pháp lý. Tiền thuê ghế không tính theo mấy giờ này. Số của Mai vẫn để trên bảng để ngày nào Mai nhận làm thì chị thấy trước thứ Hai.
| Thợ | Cách tính trong ví dụ | Giờ có mặt | Giờ nghỉ bị khóa | Giờ còn để book |
|---|---|---|---|---|
| Lan | Ăn hoa hồng | 45 | 2.5 | 42.5 |
| Hoa | Ăn hoa hồng | 48 | 3 | 45 |
| Kim | Ăn hoa hồng | 48 | 3 | 45 |
| Mai | Thuê ghế | 34 | 2 | 32 |
Hoa hồng và thuê ghế
Thợ ăn hoa hồng thì chị xếp ca, và chị ghi luôn tên người mở cửa, người đóng cửa. Kim có mặt trong tiệm mà không giữ chìa khóa thì Kim không phải người đóng cửa. Người đóng cửa là người có giờ ra trùng với giờ tiệm đóng, và hàng của người đó có đánh dấu đóng cửa.
Thợ thuê ghế thường tự chọn ngày. Mai chọn thứ Ba, thứ Tư, thứ Sáu và thứ Bảy. Nếu mấy ngày đó chỉ nằm trong tin nhắn mà không có trên bảng thì hỏng hai chuyện. Thứ nhất, ghế của Mai vẫn mở vào thứ Hai, là ngày Mai nghỉ. Thứ hai, thứ Bảy nhìn trên giấy thì đủ người, nhưng không ai ghi ai khóa cửa. Chị ghi ngày của thợ thuê ghế lên chung một bảng với thợ hoa hồng, trước khi tuần mới bắt đầu. Chị không xếp giờ thay cho thợ đó. Chị chỉ làm sao cho giờ thợ đã chọn hiện đúng trên sổ book.
Thợ còn đang học acrylic thì tuần này chưa đưa vào danh sách acrylic. Ô dịch vụ là việc thợ sẽ làm cho khách trong tuần này, không phải việc thợ mong làm được tới mùa hè.
Dịch vụ và khách kêu tên
Chị đọc dịch vụ theo hàng của từng thợ, đừng chỉ dò một ngày từ trên xuống. Bộ gel và fill gel là Lan với Hoa. Bộ acrylic và fill acrylic là Hoa với Mai. Dip là Lan, Hoa và Mai. Pedicure và gel polish chỉ có Kim. Manicure là Lan và Kim. Trong ví dụ này Hoa không nhận manicure thường. Chuyện đó bình thường khi ghế của thợ toàn khách làm bộ lâu.
"Ai rảnh cũng được" nghĩa là nhóm thợ làm được dịch vụ đó, đang trong giờ làm, không nằm trong giờ nghỉ, và chưa có khách ngồi. Không phải bất cứ ai đang có mặt trong tiệm. Pedicure không được rơi vào Lan. Full set acrylic không được rơi vào Kim. Gel polish cũng không được âm thầm đổi thành bộ gel chỉ vì thợ gel đang rảnh. Đó là hai dịch vụ khác nhau, hai giá khác nhau.
Khách kêu tên thì chỉ dùng cột của thợ đó. Khách kêu Lan làm fill gel thì thấy thứ Hai và Chủ nhật của Lan là ngày nghỉ, chứ không thấy Hoa được nhét vào chỗ Lan. Chỉ đưa thợ khác khi khách xin đổi. Khách kêu Hoa sáng thứ Năm thì không thấy giờ acrylic nào cho tới trưa, vì hàng của Hoa bắt đầu lúc đó và Mai nghỉ. Khách kêu Kim thứ Tư thì không thấy pedicure.
Phần khách tự chọn giờ nằm ở bài app đặt lịch cho tiệm nail. Bảng trong bài này là thứ chị điền trước, rồi cột của từng thợ mới hiện ra trên trang đó.
Nghỉ giữa ca, mở cửa, đóng cửa
Dịch vụ nào có hai thợ làm được thì xếp giờ nghỉ so le nhau. Thứ Bảy xếp như sau: Kim 12:30–1:00, Lan 1:00–1:30, Hoa 1:30–2:00, Mai 2:00–2:30. Lúc Lan nghỉ, Hoa vẫn nhận bộ gel. Lúc Mai nghỉ, Hoa vẫn nhận acrylic. Còn dịch vụ chỉ một thợ làm được thì phải tắt trong giờ nghỉ của thợ đó, dù các thợ khác có xếp so le cỡ nào. Pedicure thứ Bảy tắt từ 12:30 đến 1:00, và tắt luôn sau 5:00 khi Kim về. Khóa cả hai khoảng đó, đừng để menu pedicure trông như vẫn còn mở.
Thứ Sáu là chỗ bị chồng giờ cần dời. Từ 2:00 đến 2:30, Lan và Hoa cùng nghỉ. Mai không làm bộ gel, Kim cũng không. Vậy trong ví dụ, nửa tiếng đó không có ai làm bộ gel. Chị dời giờ nghỉ thứ Sáu của Lan hoặc của Hoa, rồi đọc lại hàng đó.
Mở cửa và đóng cửa phải là tên người cụ thể trên bảng, không phải chừng chừng thấy tiệm đông là được. Mỗi ngày tiệm mở cần một người có giờ vào trùng giờ tiệm mở, và một người có giờ ra trùng giờ tiệm đóng. Thứ Hai và Chủ nhật, Hoa lo cả hai việc. Thứ Ba Lan mở cửa, Kim đóng cửa. Thứ Tư Hoa mở cửa, Mai đóng cửa. Mai tới trưa mới vào, vậy vẫn được, vì Mai là người đóng cửa chứ không phải người mở. Thứ Năm Kim mở cửa, Lan đóng cửa. Thứ Sáu Mai mở cửa, Hoa đóng cửa. Thứ Bảy Lan mở cửa, Hoa đóng cửa.
| Ngày | Giờ tiệm | Mở cửa | Đóng cửa | Dịch vụ nào tắt |
|---|---|---|---|---|
| Thứ Hai | 10:00–6:00 | Hoa | Hoa | Lan và Mai nghỉ. Acrylic và gel chỉ có Hoa. |
| Thứ Ba | 10:00–7:00 | Lan | Kim | Hoa nghỉ. Acrylic chỉ có Mai. |
| Thứ Tư | 10:00–7:00 | Hoa | Mai | Kim nghỉ. Không có pedicure và không có gel polish. |
| Thứ Năm | 10:00–7:00 | Kim | Lan | Không có acrylic đến trưa, lúc Hoa vào. |
| Thứ Sáu | 10:00–7:00 | Mai | Hoa | Lan và Hoa cùng nghỉ 2:00–2:30. Nửa giờ đó không có bộ gel. |
| Thứ Bảy | 9:00–6:00 | Lan | Hoa | Pedicure hết lúc 5:00, khi Kim về. Ngày đông full set. |
| Chủ nhật | 11:00–5:00 | Hoa | Hoa | Lan và Mai nghỉ. Hoa mở cửa và đóng cửa. |
Fill và full set
Thời lượng gắn với từng dịch vụ, lấy đúng số phút chị đã ghi trên menu. Fill gel ngắn hơn làm bộ gel mới. Fill acrylic ngắn hơn làm bộ acrylic mới. Bài này không đưa ra số phút chuẩn nào, vì con số chép từ menu tiệm khác sẽ không khớp với menu của chị.
Nếu trang book dùng chung một thời lượng cho cả fill lẫn full set, cột thứ Bảy sẽ sai theo một trong hai kiểu. Hoặc hai khách bị chồng lên cùng một ghế, hoặc trang hiện ra một khoảng trống mà thật ra không trống, vì bộ mới làm lâu hơn. Bảng trong bài này giữ ca làm của thợ. Thời lượng dịch vụ giữ thời gian khách ngồi bên trong ca đó. Đó là hai chuyện khác nhau.
Việc cần xem trước tuần
Chị xem danh sách này trước khi chốt tuần. Ví dụ ở trên sẽ trượt mục 3 cho tới khi chị dời giờ nghỉ thứ Sáu. Cố tình để vậy.
| # | Trước khi chốt tuần |
|---|---|
| 1 | Mỗi ngày tiệm mở có tên người mở cửa và người đóng cửa, và giờ vào giờ ra của họ phủ đúng giờ tiệm. |
| 2 | Thứ Bảy có thợ làm gel, acrylic, và những tên khách hay kêu. Cột pedicure không phủ một full set. |
| 3 | Giờ nghỉ của cùng một dịch vụ không chồng lên nhau. Trong ví dụ, thứ Sáu 2:00–2:30 cả hai thợ gel đều nghỉ. Dời một người. |
| 4 | Dịch vụ chỉ một thợ làm được thì khóa trong giờ nghỉ và ngày nghỉ của thợ đó. Thứ Tư không có pedicure. Sáng thứ Năm không có acrylic. |
| 5 | Dịch vụ trên hàng là việc thợ sẽ làm tuần này. Thợ còn đang học acrylic thì chưa đưa vào danh sách acrylic. |
| 6 | Ai rảnh cũng được chỉ gồm thợ làm được dịch vụ đó. Khách kêu tên thì chỉ dùng cột của thợ đó, kể cả ngày thợ đó nghỉ. |
| 7 | Tổng giờ tuần đã cộng xong. Ghi giờ nghỉ có tính lương hay không. Bài này không chọn quy tắc trả tiền. |
| 8 | Thợ nghỉ đột xuất trong ngày thì khóa cột đó trên trang book ngay buổi sáng. Gạch trên giấy không khóa trang book. |
| 9 | Tuần sau bắt đầu bằng bản chép của bảng này. Đổi ngày nghỉ. Đừng dựng lại từ tờ trắng tối Chủ nhật. |
Từ tờ giấy sang trang book
Tờ giấy là kế hoạch. Trang book mới là thứ khách nhìn thấy. Giờ nghỉ chỉ ghi trên giấy thì trang book vẫn đem bán. Chị chuyển bảng qua theo thứ tự sau.
Giờ làm. Giờ vào giờ ra trên hàng là giờ làm của thợ đó trong ngày. Hàng ghi nghỉ thì đóng cả ngày, chứ đừng để 10 giờ tới 7 giờ mà không có hẹn rồi mong không ai book. Để giờ mở thì sẽ có người book.
Giờ nghỉ. Khóa từ lúc bắt đầu nghỉ tới lúc hết nghỉ trên cột của thợ đó. Kể cả khi thợ nói "vắng khách thì em mới nghỉ", chị vẫn khóa. Giờ nghỉ tùy hứng thì không phải giờ nghỉ. Ghi đúng giờ thợ sẽ nghỉ thật, rồi khóa đúng giờ đó.
Dịch vụ. Chỉ bật những dịch vụ có ghi trên hàng của thợ. Đừng bật acrylic cho Kim chỉ vì menu có acrylic. Đừng bật bộ gel chỉ vì thợ đó làm gel polish.
Ai rảnh cũng được. Khách không kêu tên thì chỉ hiện những giờ có ít nhất một thợ làm được dịch vụ đó, đang trong ca, không nằm trong giờ nghỉ, và chưa có khách. Đừng hiện những giờ mà người đang có mặt trong tiệm không ai làm được dịch vụ đó.
Kêu tên. Khách kêu thợ nào thì chỉ hiện cột thợ đó. Cột của thợ đang nghỉ hoặc đang trong giờ nghỉ thì không có giờ trống. Đừng chuyển khách qua thợ khác khi khách chưa xin đổi.
Thời lượng. Fill và full set giữ đúng số phút trên menu của tiệm. Ca làm không thay được thời lượng dịch vụ.
Nghỉ đột xuất. Sáng nào có thợ không tới thì đặt ngày đó thành ngày nghỉ trên trang book trước, rồi mới gạch trên giấy. Khách walk-in thì tiệm vẫn cần người đóng cửa. Một ô trống lúc 6:40 tối không tự sinh ra một người ở lại khóa cửa.
Trang để khách tự book nằm ở bài app đặt lịch. Trang đó chỉ đưa ra được những giờ mà bảng này đã quyết.
Khi tờ giấy phải thành giờ thật
Chị có thể giữ bảng này trên giấy hoặc trên Sheets, rồi gõ lại đúng những giờ đó vào sổ đang dùng. Còn nếu chị muốn trang book chạy theo bảng mà khỏi phải chép lại mỗi tối Chủ nhật, Bukkii Calendar giữ giờ vào giờ ra của từng thợ, giờ nghỉ đã khóa, và dịch vụ thợ đó làm được. Khách chỉ thấy đúng những giờ mà tờ giấy đã chốt.
Lịch là $0 cho tối đa 3 thợ và có kèm website đặt lịch. Reserve with Google không có trong gói miễn phí. $20 một tháng mở không giới hạn thợ và khách, kèm Reserve with Google. Nhắc hẹn qua email đi kèm gói $20. Lịch không bắt máy. Giá lấy từ bukkii.ai/pricing, xem ngày 5 tháng 11 năm 2026. Bảng này viết cho tiệm nail bên Mỹ.
AIVA bắt những cuộc gọi mà tiệm sẽ bị lỡ. AIVA trả lời người gọi chỉ bằng tiếng Anh. AIVA không nói tiếng Việt, không nói tiếng Tây Ban Nha, không nói tiếng Trung, không nói tiếng Hàn, và không nói ngôn ngữ nào khác với khách gọi. Bài này viết bằng tiếng Việt cho chị đọc, còn giọng trên điện thoại vẫn là tiếng Anh. AIVA là $200 một lần. Không dùng thử miễn phí, không phí tháng, không hợp đồng. Khoản này gồm số riêng, dạy AIVA theo menu và nội quy của tiệm, cài lịch và chuyển tiếp cuộc gọi, kèm 100 phút thoại và 1.500 SMS. Sau đó thoại $0.35 một phút và SMS $0.035. Gói mua thêm không hết hạn. AIVA nhắn giờ hẹn sau khi khách đã book. AIVA không tự nhắn cho người đã cúp máy. Cài đặt bằng chuyển tiếp cuộc gọi. Bài này không bàn chuyện chuyển số nhà mạng. Số điện thoại trên cửa tiệm vẫn ở nhà mạng chị đang trả tiền. Gọi để nghe giọng tiếng Anh tại (215) 791-6766. Bắt đầu tại đây.
Câu hỏi thường gặp
Mẫu lịch làm việc của thợ nail cần có gì?
Tên thợ, ca làm từ thứ Hai đến Chủ nhật với giờ vào giờ ra, giờ nghỉ giữa ca, dịch vụ thợ đó làm được, ghế, tổng giờ trong tuần, và ai mở cửa, ai đóng cửa. Bảng chỉ có tên với giờ vào ra thì trang đặt lịch không biết thêm được gì.
Tuần của thợ thuê ghế khác tuần của thợ ăn hoa hồng thế nào?
Thợ ăn hoa hồng thì chủ tiệm xếp ca, kể cả ai mở cửa, ai đóng cửa. Thợ thuê ghế thường tự chọn ngày làm. Nhưng những ngày đó vẫn phải ghi lên chung một bảng trước khi tuần bắt đầu, để ghế của thợ không bị mở vào ngày thợ nghỉ, và thứ Bảy vẫn có người đóng cửa.
Vì sao lựa chọn ai rảnh cũng được không thể là mọi thợ đang có mặt trong tiệm?
Bộ gel hay bộ acrylic chỉ được giao cho thợ làm được dịch vụ đó. Nếu trang đặt lịch coi ai đang trong ca cũng rảnh cho mọi dịch vụ, khách làm full set có thể rơi vào thợ pedicure, hoặc rơi vào thợ đang nghỉ giữa ca.
Giờ nghỉ ghi trên giấy hoặc trên Sheets làm sao hiện trên trang book?
Nó sẽ không hiện cho tới khi chị khóa giờ đó. Giờ nghỉ chỉ viết trên giấy thì trên trang đặt lịch vẫn là ô trống. Chị khóa giờ nghỉ trên cột của thợ đó, và giới hạn mỗi dịch vụ cho đúng những thợ làm được. Khách kêu tên thợ nào thì chỉ thấy cột của thợ đó.
Fill gel và full set nên chặn bao lâu trên lịch?
Thời lượng gắn với từng dịch vụ, lấy đúng số phút đã ghi trên menu của tiệm. Một lần fill chiếm ít chỗ trên cột hơn một bộ mới. Bài này không đưa ra số phút chuẩn nào. Nếu mọi cuộc hẹn đều dùng chung một thời lượng, thứ Bảy sẽ hoặc chồng hai khách lên một ghế, hoặc hiện ra những khoảng trống mà thật ra không trống.
Lịch Bukkii có bắt máy không, và AIVA nói tiếng gì với khách gọi?
Lịch không bắt máy. Lịch là $0 cho tối đa 3 thợ và có kèm website đặt lịch. Reserve with Google không có trong gói miễn phí. $20 một tháng mở không giới hạn thợ và khách, kèm Reserve with Google. Nhắc hẹn qua email đi kèm gói $20. AIVA trả lời người gọi chỉ bằng tiếng Anh. AIVA không nói tiếng Việt, không nói tiếng Tây Ban Nha, không nói tiếng Trung, không nói tiếng Hàn, và không nói ngôn ngữ nào khác với khách gọi. AIVA là $200 một lần, không phí tháng, không hợp đồng, không dùng thử miễn phí. Khoản này gồm số riêng, dạy AIVA, cài lịch và chuyển tiếp cuộc gọi, kèm 100 phút thoại và 1.500 SMS. Sau đó thoại $0.35 một phút và SMS $0.035. Gói mua thêm không hết hạn. AIVA nhắn giờ hẹn sau khi khách đã book. AIVA không tự nhắn cho người đã cúp máy. Cài đặt bằng chuyển tiếp cuộc gọi, không chuyển số nhà mạng. Giá lấy từ bukkii.ai/pricing, xem ngày 5 tháng 11 năm 2026.

